Tin mới :
Lần trước ở phần 1 chúng ta đã đưa ra những câu hỏi nhằm xác định vị sao bạn cần có một web site và cái gì thực sự sẽ mang lại lợi ích cho bạn. Để tiếp nối cho các bước cần thiết để có một web site ở phần này chúng ta sẽ làm quen với khái niệm domain. Có nhiều người biết cái tên domain khi nói đến web và internet nhưng để hiểu rõ về nó thì nhiều người chưa có đủ tự tin với khái niệm này ? Vậy domain ( tên miền)là gì?



1. Khái niệm domain :

Domain dịch ra tiếng Việt gọi là tên miền. Ý nghĩa tiếng Việt của từ này cũng đủ cho ta thấy nó là một danh từ và theo thuật ngữ tin học thì nó là một định danh trên Internet. Một khái niệm nữa đi cùng với tên miền mà bạn nên biết là địa chỉ IP. Đối với những người dùng Internet thì hầu như họ không trực tiếp dùng đến IP. Nhưng thực ra nói đến mạng Internet phải nói đến địa chỉ IP. IP dùng để phân biệt các máy tính trên mạng với nhau. Các máy tính muốn nối mạng được với nhau phải thông qua địa chỉ IP. Người ta dùng các con số để liệt kê các địa chỉ này, ta vẫn thường thấy các địa chỉ IP dạng : 203.228.246.143. Đây là cái mà người dùng internet có thể nhìn thấy. Ở đây ta có thể thấy người ta dùng 4 nhóm số và mỗi nhóm cách nhau bởi dấu chấm. Máy tính chỉ làm việc với hệ cơ số 2 vậy ở đây người ta đã dùng đến 8bit để mã hóa cho một nhóm số và tổng cộng là 32 bit cho một địa chỉ IP ( 203 = 10000011, 228 = 11100100, 246 =11110110, 143 =10001111 ). Như vậy địa chỉ cuối cùng là : 10000011. 11100100. 11110110. 10001111. Mặc dù chỉ có 2 số 0 và 1 nhưng rất loằng ngoằng. Vậy 32 chữ số này có quan hệ gì với domain. Rõ ràng việc gõ lại các chữ số này rất mệt cho nên người ta đã phải chuyển nó về chữ số thập phân nhưng làm việc với các chữ số thập phân nhiều cũng không tiện và rất khó nhớ. Sẽ rất khó khăn dễ lẫn lộn nếu chúng ta làm việc với các con số, vì vậy người ta đã đặt tên cho các địa chỉ này. Đó chính là cái Domain mà ta đang tìm hiểu đấy. Dĩ nhiên muốn đặt tên cho các địa chỉ IP người ta phải dùng đến chổ để lưu trữ địa chỉ và tên miền. Đó chính là các máy chủ dịch vụ DNS. Các máy chủ này có nhiệm vụ phân giải tên miền thành địa chỉ IP. Cho nên khi bạn gửi yêu cầu một trang web chẵng hạn bạn chỉ cần gõ tên miền thì máy chủ dịch vụ sẽ chuyển tù tên miền thành địa chỉ IP và gửi thông tin địa chỉ IP để kêt nối với máy chủ lưu trữ web site mà  bạn muốn.
         
2. Khái niệm DNS :
DNS là từ viết tắt trong tiếng Anh của Domain Name System, là Hệ thống phân giải tên miền được phát minh vào năm 1984 cho Internet, chỉ một hệ thống cho phép thiết lập tương ứng giữa địa chỉ IP và tên miền.
Trong phạm vi lớn hơn, các máy tính kết nối với internet sử dụng DNS để tạo địa chỉ liên kết dạng URL (Universal Resource Locators). Theo phương pháp này, mỗi máy tính sẽ không cần sử dụng địa chỉ IP cho kết nối mà chỉ cần sử dụng tên miền (domain name) để truy vấn đến kết nối đó. Với mô hình phân cấp như hình dưới đây :

Mô hình phân cấp tên miền

Ví dụ hoạt động của DNS :

http://www.joomla.edu.vn/images/stories/demo/dns-ex.jpg


Ví dụ hoạt động của DNS

Giả sử PC A muốn truy cập đến trang web www.yahoo.com và server vnn chưa lưu thông tin về trang web này, các bước truy vấn sẽ diễn ra như sau:

  • Đầu tiên PC A gửi một request hỏi server quản lý tên miền vnn hỏi thông tin về www.yahoo.com.
     Server quản lý tên miền vnn gửi một truy vấn đến server top level domain.
  • Top level domain lưu trữ thông tin về mọi tên miền trên mạng. Do đó nó sẽ gửi lại cho server quản lý tên miền vnn địa chỉ IP của server quản lý miền com (gọi tắt server com). 
  • Khi có địa chỉ IP của server quản lý tên miền com thì lập tức server vnn hỏi server com thông tin về yahoo.com. Server com quản lý toàn bộ những trang web có domain là com, chúng gửi thông tin về địa chỉ IP của server yahoo.com cho server vnn.
  • Lúc này server vnn đã có địa chỉ IP của yahoo.com rồi. Nhưng PC A yêu cầu dịch vụ www chứ không phải là dịch vụ ftp hay một dịch vụ nào khác. Do đó server vnn tiếp tục truy vấn tới server yahoo.com để yêu cầu thông tin về server quản lý dịch vụ www của yahoo.com.
  • Lẽ đương nhiên khi nhận được truy vấn thì server yahoo.com gửi lại cho server vnn địa chỉ IP của server quản lý www.yahoo.com.
  • Cuối cùng là server vnn gửi lại địa chỉ IP của server quản lý www.yahoo.com. cho PC A và PC A kết nối trực tiếp đến nó. Và bây giờ thì server vnn đã có thông tin về www.yahoo.com cho những lần truy vấn đến sau của các client khác.

Có thể bạn không cần hiểu những khái niệm này nhưng đây là một trong những quá trình để website của bạn có thể hoạt động được trên Internet. Nếu bạn cảm thấy rắc rối với các khái niệm này bạn có thể liên hệ với chúng tôi để được tư vấn hoặc chờ xem các phần tiếp theo (Phần 3 - Máy chủ lưu trữ web site )
 

Quochm
Sau Bill Gates, đến lượt Steve Jobs không còn giữ vai trò chính tại công ty họ...
Khách hàng